Thông tin chi tiết

Bảo hiểm chăm sóc

Hình thức bảo hiểm cho những người cần phải chăm sóc được áp dụng từ năm 1995 như là „trụ cột thứ năm“ của hệ thống bảo hiểm xã hội. Loại bảo hiểm bắt buộc này được chi trả trong một quy trình hoán đổi và lấy từ phí đóng bảo hiểm do người lao động và bên sử dụng lao động chia nhau đóng góp.

Bảo hiểm hưu trí

Bảo hiểm hưu trí theo luật định là trụ cột quan trọng nhất của bảo hiểm tuổi già. Ngân sách bảo hiểm này được hình thành trong một quy trình hoán đổi: Phí bảo hiểm do người lao động và bên sử dụng lao động đóng hàng tháng được dùng để trả lương hưu cho những người đang nghỉ hưu. Với việc đóng bảo hiểm hàng tháng, người được bảo hiểm có quyền nhận lương hưu của mình khi đến tuổi hưu. Để trả được lương hưu cho những người sẽ về hưu trong tương lai thì thế hệ tiếp theo sau phải đóng phí bảo hiểm của họ („Hợp đồng giữa các thế hệ“). Ngoài ra quỹ bảo hiểm của công ty và tư nhân tạo nên trụ cột thứ hai và thứ ba trong bảo hiểm tuổi già. Những quỹ này được nhà nước hỗ trợ với những điều kiện nhất định.

Bảo hiểm tai nạn

Bảo hiểm tai nạn theo luật định là bảo hiểm bắt buộc do bên sử dụng lao động đóng cho người lao động để bảo vệ họ khi bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp.

Bảo hiểm thất nghiệp

Ở Đức người thất nghiệp có quyền hưởng trợ cấp. Ai thất nghiệp và trong hai năm cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo luật định ít nhất 12 tháng sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp (từ 60 % đến 67 % lương tháng cuối cùng). Tiền trợ cấp thất nghiệp được lấy từ nguồn phí bảo hiểm do người lao động và bên sử dụng lao động mỗi bên đóng một nửa. Thời gian hưởng trợ cấp từ 6 đến 24 tháng. Sau đó người đang tìm việc làm có thể xin một khoản trợ cấp cơ bản (còn gọi là „trợ cấp thất nghiệp II”) với mức độ tùy thuộc vào mức độ cần thiết. Trong khủng hoảng kinh tế khoản trợ cấp cho người không đủ việc làm được chi từ nguồn thu thuế đã có hiệu quả. Khoản này tạo điều kiện cho doanh nghiệp tránh sa thải nhân công khi tình trạng kinh tế khó khăn.

Bảo hiểm y tế

Gần như tất cả người dân sống ở Đức đều được bảo hiểm y tế theo quỹ bảo hiểm y tế nhà nước (90 %) hoặc tư nhân (10 %). Các quỹ bảo hiểm y tế đảm nhiệm các chi phí điều trị, thuốc men, chi phí cho thời gian nằm viện và khám bệnh. Phí bảo hiểm y tế do người lao động và bên sử dụng lao động đóng. Thành viên chưa đi làm trong gia đình của người được bảo hiểm không phải đóng phí bảo hiểm.

Hợp đồng giữa các thế hệ

Hệ thống được mô tả sau đây chi trả cho bảo hiểm hưu trí theo luật định: Với phần đóng bảo hiểm của mình, những người hiện nay đi làm trả lương trong một quy trình hoán đổi cho thế hệ đã về hưu và trông chờ rằng, thế hệ tiếp theo sau này sẽ trả lương hưu cho họ. Một đạo luật bảo hiểm hưu trí đầu tiên đã được áp dụng ngay từ năm 1889. Bên cạnh các phần phí bảo hiểm của người lao động và bên sử dụng lao động đóng, hiện nay hệ thống còn được liên bang hỗ trợ. Từ năm 2002 bảo hiểm hưu trí theo luật định còn được bổ sung thêm bởi một khoản phí bảo hiểm hưu trí tư nhân được nhà nước hỗ trợ của những người có tài sản thế chấp. Bên cạnh bảo hiểm hưu trí cho lao động theo luật định còn có những loại bảo hiểm hưu trí khác cho công chức nhà nước và những người hành nghề tự do.

Mức sống

Cộng hòa liên bang Đức thuộc số những nước có mức sống cao nhất thế giới. Theo chỉ số phát triển con người HDI của Liên hiệp quốc và tính theo tuổi thọ, tỷ lệ người biết chữ và thu nhập bình quân đầu người thì Đức là một trong những nước phát triển nhất thế giới. Hệ thống y tế tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân. Các hệ thống bảo hiểm y tế theo luật định, bảo hiểm chăm sóc khi ốm đau, già yếu, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm thất nghiệp bảo vệ con người trước những hậu quả tài chính do những nguy cơ đe dọa sự tồn tại gây ra.

Nhà nước xã hội

Nguyên tắc nhà nước xã hội được ấn định trong điều 20 Luật cơ bản và không bị loại bỏ ngay cả trong trường hợp sửa đổi Luật cơ bản. Như vậy Luật cơ bản buộc nhà nước bảo đảm những điều kiện sống cơ bản cho công dân của mình, bên cạnh việc bảo đảm không gian tự do. Từng công dân cũng có trách nhiệm cùng tham gia bảo đảm an sinh xã hội cho chính mình.

Nhập cư

Trong thế kỷ 19 Đức đã là điểm đến của rất đông người nhập cư và từ nửa cuối thế kỷ 20 trở thành nước có đông người nhập cư nhất châu Âu. Năm 1950 500.000 người nước ngoài tại Cộng hòa liên bang Đức chỉ chiếm khoảng 1% dân số. Tỷ lệ đó đã thay đổi rõ rệt. Hiện nay khoảng 10 triệu người nước ngoài đang sống ở Đức chiếm 12% tổng dân số.

Nhập quốc tịch

Những người nhập cư sống lâu dài tại Đức có thể xin nhập quốc tịch Đức với những điều kiện nhất định. Năm 2016 có 110.400 người nước ngoài được nhập quốc tịch.

bamf.de

Phong cách sống của người cao tuổi

Người cao tuổi không chỉ già hơn, mà còn khỏe mạnh hơn và tích cực hoạt động hơn người cao tuổi thế hệ trước. Họ có khả năng kinh tế tốt. Những người trên 60 tuổi tạo nên gần một phần ba sức mua của toàn xã hội. Phong cách sống của những người trên 50 tuổi đã thay đổi đáng kể. Khoảng gần một nửa trong số họ quan tâm hơn đến việc luyện tập giữ gìn sức khỏe. Các hoạt động thể chất và thể thao ngày càng quan trọng hơn. Cứ ba người trên 60 tuổi có một người luyện tập thể thao hàng ngày.

Quyền Bình đẳng

Tại Đức quyền bình đẳng được ấn định trong Luật cơ bản. Luật pháp cấm phân biệt đối xử nam nữ trong khi bố trí điều kiện làm việc và trả lương. Nhiều đạo luật đã được ban hành nhằm bảo đảm quyền lợi của phụ nữ. Ngoài ra thông qua một mạng lưới rộng khắp các tổ chức nhà nước và phi chính phủ, Đức rất tích cực phấn đấu cho việc đối xử bình đẳng giữa các giới. Với việc áp dụng chủ trương „Gender Mainstreaming GEM – Lồng ghép giới“ thì thực thi chính sách phụ nữ là một nhiệm vụ chung của tất cả các ngành và cơ quan hành chính. Như vậy nhà nước đóng một vai trò tích cực trong việc kiến tạo điều kiện sống như nhau cho nam giới và phụ nữ. Những biện pháp này đã thu được những kết quả: Theo chỉ số GEM của Liên hiệp quốc đánh giá sự tham gia của phụ nnữ vào kinh tế và chính trị thì Đức xếp thứ 9 trong số những nước có chỉ số GEM tốt nhất thế giới.

Trợ cấp xã hội

Hệ thống an sinh xã hội còn được bổ sung bằng trợ cấp xã hội lấy từ nguồn thu về thuế. Trợ cấp này được áp dụng, nếu một cá nhân không vượt qua được tình trạng cùng quẫn bằng sức lực và phương tiện của mình hoặc của thân nhân. Ngoài ra còn những trợ cấp cơ bản tương tự trợ cấp xã hội, như trợ cấp cơ bản cho người cao tuổi hoặc cho người không có khả năng lao động trong thời gian dài, cũng như trợ cấp nhà nước để nuôi dưỡng hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt.

Tuổi thọ tăng

Trong khi tuổi thọ trung bình hồi đầu thế kỷ 20 là khoảng 46 thì ngày nay là 78 đối với nam giới và 83 đối với nữ giới.